Quy định về hợp đồng ủy quyền

Xác lập và Công chứng hợp đồng ủy quyền đóng vai trò là nền tảng pháp lý vững chắc, cung cấp chứng cứ xác thực và tin cậy cho các giao dịch do người đại diện theo ủy quyền thực hiện nhân danh người ủy quyền. Trong thực tế, việc công chứng hợp đồng ủy quyền thường gặp nhiều khó khăn, bất cập liên quan đến chủ thể, đối tượng của hợp đồng ủy quyền, cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng ủy quyền.

Quy định về hợp đồng ủy quyền
Quy định về hợp đồng ủy quyền

Khó khăn, vướng mắc

Ủy quyền là mối quan hệ phổ biến trong cuộc sống hiện đại, khi các cá nhân, tổ chức không tiện thực hiện công việc của mình nên đã ủy quyền cho người khác thay thế thông qua hợp đồng ủy quyền. Việc ủy quyền này mang lại sự thuận tiện cho các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện các giao dịch dân sự, đồng thời tiết kiệm thời gian quý báu do khoảng cách địa lý và tính chất đặc thù của công việc. Tuy nhiên, khi nhắc đến hợp đồng ủy quyền, không thể không đề cập đến rủi ro và những khó khăn như sau:

1. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền

Theo Điều 569 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền được quy định trong hai trường hợp: (1) Ủy quyền có thù lao; (2) Ủy quyền không có thù lao. Trong cả hai trường hợp, bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền đều có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải tuân thủ các điều kiện khác nhau và phải thông báo trước cho bên kia trong một thời gian hợp lý. Tuy nhiên, thời gian hợp lý cụ thể chưa được hướng dẫn rõ ràng, gây ra tranh chấp vì các bên không thể ước lượng và đưa ra thời gian báo trước chính xác. Để tránh tình trạng này, cần xác định cụ thể thời gian báo trước cho trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền.

Bên cạnh đó, mặc dù BLDS 2015 quy định rõ điều khoản đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền, nhưng Điều 51 Luật công chứng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2018 chỉ quy định công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch khi có sự thỏa thuận bằng văn bản của tất cả các bên tham gia. Sự không rõ ràng này gây khó khăn cho Công chứng viên trong việc áp dụng trên thực tế. Công chứng viên chỉ có thể thực hiện công chứng việc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền khi một trong hai bên xuất trình hợp đồng đã ký và chứng minh việc thông báo cho bên kia một thời gian hợp lý. Trong khi đó, các tổ chức công chứng chỉ chấp nhận việc chấm dứt hợp đồng khi cả hai bên cùng ký vào văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.

2. Hợp đồng ủy quyền giả tạo

Hợp đồng ủy quyền là một trong những giao dịch có rủi ro cao, dễ bị lạm dụng để che giấu giao dịch khác. Các vụ lừa đảo thông qua hợp đồng chuyển nhượng có ủy quyền hay việc chuyển nhượng bất động sản dưới dạng ủy quyền khi giá thị trường biến động mạnh thường dẫn đến tranh chấp. Việc lập hợp đồng ủy quyền để che giấu bản chất thực của giao dịch làm mất đi tính tự nguyện và trung thực của giao dịch, dẫn đến hợp đồng ủy quyền dễ trở thành giao dịch bất hợp pháp.

Trên thực tế, khi chuyển nhượng bất động sản, các bên thường sử dụng hợp đồng ủy quyền nhằm che giấu giao dịch mua bán bất động sản. Hợp đồng ủy quyền giúp chuyển giao “quyền sở hữu” từ bên bán sang bên mua, nhưng không thể lường trước hết những rủi ro khi sử dụng hợp đồng này để che giấu hợp đồng mua bán thật. Chẳng hạn, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng hợp đồng ủy quyền sẽ không có hiệu lực pháp luật, chỉ khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai mới có hiệu lực. Do đó, hợp đồng ủy quyền không thể làm phát sinh đầy đủ giá trị pháp lý khi một người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người khác.

Mặc dù hợp đồng ủy quyền tiềm ẩn nhiều rủi ro, Công chứng viên không có quyền từ chối công chứng hợp đồng này nếu người có tài sản yêu cầu ký loại hợp đồng này. Nếu từ chối, Công chứng viên sẽ vi phạm quy định của Thông tư số 11/2012/TT-BTP về quy tắc đạo đức hành nghề công chứng và bị xử lý vi phạm theo Điều 71 Luật công chứng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2018.

3. Hợp đồng ủy quyền chấm dứt khi một trong các bên chết

Quy định về việc hợp đồng ủy quyền chấm dứt khi một trong các bên chết chưa giải quyết triệt để vấn đề và bảo vệ quyền lợi của các bên. Trường hợp các bên không biết bên kia đã chết hoặc một bên giấu thông tin về cái chết để tiếp tục thực hiện công việc như ủy quyền gây khó khăn cho việc bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ ủy quyền.

Ngoài ra, khi bên được ủy quyền đến tổ chức hành nghề công chứng để thực hiện các công việc được ủy quyền, Công chứng viên khó xác định bên ủy quyền còn sống hay đã chết. Yêu cầu chứng minh sẽ gây hiểu lầm là làm khó dễ cho bên được ủy quyền, nhưng không yêu cầu cung cấp thì không có cơ sở công chứng hợp đồng giao dịch liên quan đến hợp đồng ủy quyền.

4. Khó khăn cho Công chứng viên khi xác định giấy tờ thật, giả

Việc sử dụng công nghệ cao trong in ấn giấy tờ giả mạo gây tác động xấu đến an toàn pháp lý trong giao dịch dân sự và thiệt hại về vật chất cho người dân. Các đối tượng lừa đảo thường mạo danh chủ sở hữu tài sản để giao dịch mua bán, gây thiệt hại về vật chất và ảnh hưởng đến uy tín của các tổ chức hành nghề công chứng.

Như vậy, hợp đồng ủy quyền không chỉ mang lại rủi ro cho các bên tham gia mà còn gây không ít khó khăn cho Công chứng viên khi tiến hành công chứng hợp đồng.